Ngày xưa, trong một ngôi làng nhỏ yên bình nằm bên dòng sông xanh nhuộm ánh mặt trời, mọi nhà đều đầy đủ, sung túc, chỉ có một người đàn ông nghèo khó tên gọi là bác Nhà Nông. Ông và vợ mình sống trong một túp lều nhỏ tồi tàn, không có nổi một con bò để làm bạn đồng hành cũng như hỗ trợ cuộc sống mưu sinh hằng ngày. Cả hai vợ chồng chỉ mong mỏi có một con bò, điều giản dị ấy cứ mãi mơ ước trong lòng họ.
Một hôm, khi ánh nắng chan hòa soi bóng xuống đồng cỏ xanh mướt, bác Nhà Nông trăn trở và nói với vợ:
– Anh vừa có một ý tưởng hay, em ạ! Chúng ta có một người bà con làm thợ mộc, sao không đến nhờ chú ấy chế tác giúp cho chúng ta một con bê bằng gỗ? Rồi sau đó, ta có thể sơn màu như những con bê thật. Dần dần, con bê gỗ ấy sẽ trở thành một con bò thật.
Nghe vậy, vợ bác Nhà Nông hớn hở gật đầu tán thành. Ngày hôm sau, bà vội vàng đến nhờ người bà con, chú thợ mộc, làm giúp một con bê. Chẳng lâu sau, chú mộc ấy đã đẽo gỗ, dũa nhẵn mịn, rồi tô màu cho giống hệt những con bê sống động ngoài đồng. Con bê gỗ cúi đầu gặm cỏ như nó đang sống thật.
Sáng sớm hôm sau, khi bầu trời trong vắt, chú mục đồng chăn bò đã dẫn đàn bò ra đồng cỏ. Nhìn thấy chú ấy, bác Nhà Nông gọi lớn:
– Này chú mục đồng, tôi có một con bê, nhưng nó còn nhỏ nên phải ôm nó theo ra đồng cỏ.
Chú mục đồng đáp lại với nụ cười:
– Vâng, cũng được thôi!
Vậy là chú cắp nách con bê gỗ và mang nó ra đồng cỏ. Con bê đứng một chỗ, giống như nó đang say mê gặm cỏ. Chú mục đồng thấy vậy thì thốt lên:
– Thật tuyệt vời! Nếu nó có thể gặm cỏ, thì chắc chắn nó sẽ lớn lên!
Đến chiều tối, khi chú mục đồng dẫn đàn bò về, chú mỉm cười bảo con bê:
– Cứ ăn cho no nê, giờ thì mi có thể đi bằng bốn chân được rồi, không cần ta phải cắp nách nữa.
Bác Nhà Nông đứng ở cửa túp lều, hồi hộp đợi chờ bê của mình trở về. Khi chú mục đồng đi ngang qua mà không thấy con bê đâu, bác Nhà Nông liền hỏi.
– Chú ơi, lẽ nào con bê không về cùng đàn bò?
Chú mục đồng đáp:
– Con bê còn ở ngoài đồng, nó đang say sưa gặm cỏ.
Bác Nhà Nông lo lắng kêu lên:
– Trời ơi, tôi phải ra dắt nó về ngay!
Cả hai nhanh chóng chạy ra đồng cỏ, nhưng thật không may, con bê đã bị kẻ trộm bế đi mất. Quá hoảng hốt, chú mục đồng nói:
– Hay là con bê đã chạy lạc đâu đó.
Bác Nhà Nông lắc đầu:
– Theo tôi thì không phải thế. Chúng ta nên báo cáo với trưởng làng.
Khi họ gặp được trưởng làng, với ánh mắt cứng rắn, ông ta lên án chú mục đồng vì đã sơ suất trong việc trông coi và ra lệnh phải đền bù bằng một con bò. May mắn thay, giờ đây bác Nhà Nông đã có con bò mà hai vợ chồng ông đã khao khát từ lâu. Hạnh phúc tràn ngập trong mắt họ.
Nhưng niềm vui ấy không tồn tại lâu, vì không có đủ thức ăn để nuôi bò. Sau một thời gian ngắn, họ phải đành ra quyết định cắt thịt bò, bảo quản lại. Da bò được mang ra thành phố bán lấy tiền mua một con bê khác.
Trên đường đi, khi ngang qua cối xay gió, bác Nhà Nông tình cờ nhìn thấy một con quạ đang đau đớn vì gãy cánh. Thương hại và đầy lòng trắc ẩn, bác nhấc nó lên, đặt vào tấm da bò để nó không bị đau thêm.
Bỗng chốc, mây đen ùn ùn kéo đến, gió nổi lên mạnh mẽ, cơn mưa như trút nước. Bác đành phải tìm chỗ trú ẩn trong nhà cối xay. Chỉ có vợ bác thợ cối xay ở nhà. Bà nhìn bác với ánh mắt ân cần:
– Ông có thể nghỉ ngơi trên đống rơm kia, tôi sẽ mời ông chút bánh mì phết pho mát.
Bác Nhà Nông ăn xong bánh mì rồi ngả lưng trên đống rơm. Tấm da bò thì ngay bên cạnh. Vợ bác thợ cối xay thấy ông ấy ngủ say, nên suy nghĩ:
– Ông ấy đang rất mệt nên không thể dậy được.
Lúc này, linh mục ghé thăm. Vợ bác thợ cối xay nhanh chóng đón tiếp:
– Chồng tôi không có nhà, nhưng chúng ta có thể ăn uống với nhau một chút.
Bác Nhà Nông lắng nghe cuộc nói chuyện của họ, và bất ngờ thấy vợ bác thợ cối xay mang rượu vang, bánh ngọt, thịt nướng cùng những món ăn ngon khác ra để đãi linh mục. Bác thật sự tức giận vì mình chỉ được mời bánh mì đơn giản.
Ngay lúc hai người chuẩn bị ngồi vào bàn ăn, có tiếng gõ cửa. Vợ bác thợ cối xay giật mình:
– Ôi, chồng tôi đã về!
Bà vội vàng giấu tất cả thức ăn vào chỗ kín, rồi mở cửa cho chồng vào, giọng nói rối rít:
– May quá, ông về được!
Nhìn thấy bác Nhà Nông nằm trên đống rơm, chồng bà hỏi:
– Ai đang nằm ở đây?
Bà đáp:
– Đó là một người khách qua đường, gặp mưa lớn nên vào trú nhờ, tôi đã mời ông ấy chút bánh mì.
Bác thợ cối xay nói:
– Ồ, cũng được. Nhưng tôi đói rồi, làm ơn cho tôi chút thức ăn đi.
– Chỉ còn bánh mì phết pho mát thôi.
– Vậy thì cũng ổn.
Chồng bà ngắm nhìn bác Nhà Nông, rồi lên tiếng:
– Dậy đi, ra ăn cùng tôi cho vui nào!
Bác Nhà Nông không cần chờ lần thứ hai, khoan khoái đứng dậy và ra ngồi cùng bàn. Bác thợ cối xay thì thấy tấm da bò trên đống rơm, tỏ ra hiếu kỳ và hỏi:
– Ủa, bác có gì đó?
Bác Nhà Nông đáp:
– Ở trong đó là một người tiên tri.
– Thế người tiên tri có thể đoán cho tôi không?
– Tất nhiên rồi! Nhưng người tiên tri chỉ nói ba điều, điều thứ tư giữ lại cho mình.
Sự hiếu kỳ ngày càng lớn lên trong lòng bác thợ cối xay, và ông ta nói:
– Thì cho tôi đoán thử xem!
Bác Nhà Nông nắm chặt cổ con quạ, nó cất tiếng “cu qua quạ”. Bác bảo:
– Điều đầu tiên nó nói rằng có rượu vang ở dưới gối.
Bác thợ cối xay thốt lên:
– Thú vị quá nhỉ!
Rồi ông lật gối lên và tìm thấy chai rượu vang. Hứng thú, bác lại bảo:
– Nói tiếp đi!
Bác Nhà Nông lại nắm chặt cổ quạ, lại nghe tiếng “cu qua quạ”. Bác bảo:
– Điều thứ hai nó nói là thịt nướng đang ở trong lò sưởi.
Bác thợ cối xay nghiêng đầu:
– Thú vị thật đấy!
Ông chạy ngay tới lò sưởi, tìm thấy thịt nướng. Bác Nhà Nông lại cho quạ cất tiếng. Bác nói:
– Điều thứ ba nó nói là món sa lát để ở trên giường.
Bác thợ cối xay tròn mắt, ngạc nhiên:
– Cực kỳ thú vị!
Ông chạy đến giường và tìm thấy món sa lát như lời nói. Cuối cùng, bác Nhà Nông lại nhấn cho quạ kêu lên một lần nữa. Bác bảo:
– Điều thứ tư nó nói rằng bánh ngọt giấu ở dưới gầm giường.
Bác thợ cối xay không thể tin nổi:
– Thật là kỳ diệu!
Ông chạy dưới giường và tìm thấy bánh ngọt.
Hai người ngồi vào bàn ăn, nhưng vợ bác thợ cối xay cảm thấy lo lắng, nhanh chóng trốn lên giường, cúi gằm mặt xuống và nắm chặt chìa khóa. Bác thợ cối xay nóng lòng muốn biết điều thứ năm. Bác Nhà Nông từ tốn:
– Chúng ta ăn uống một lát đã, điều thứ năm là một tin không hay.
Sau khi đã lấp đầy bụng, hai người bắt đầu thương lượng, nếu nói ra điều thứ năm, bác thợ cối xay sẽ trả bao nhiêu tiền. Cuối cùng, cả hai đi đến thống nhất là ba trăm Taler (đơn vị tiền tệ thời đó).
Bác Nhà Nông nắm chặt cổ quạ, khiến nó lớn tiếng kêu “quạ quạ”. Bác thợ cối xay hỏi:
– Nó nói điều gì vậy?
Bác Nhà Nông bảo:
– Nó bảo rằng trong tủ có con quỷ đang nấp.
Bác thợ cối xay tròn mắt:
– Thật sao? Quỷ thì cần phải ra khỏi nhà ngay!
Vợ bác thợ cối xay sợ hãi, vội trao chìa khóa cho bác Nhà Nông mở tủ ra. Linh mục hoảng sợ, chạy thoát khỏi nhà như một cơn gió, thay vì đọc kinh cầu nguyện như dự định. Bác thợ cối xay thở phào:
– Đúng là tôi tận mắt nhìn thấy cái bóng đen chạy vù ra từ trong tủ.
Sáng hôm sau, bác Nhà Nông ôm ba trăm Taler thiết tha ra đi, để lại mọi lo toan sau lưng. Với số tiền trong tay, bác thuê thợ xây nhà, dựng nên một căn nhà khang trang, đẹp đẽ hơn tất cả những ngôi nhà quanh làng.
Sự thay đổi của bác Nhà Nông khiến dân làng không khỏi thắc mắc:
– Chắc chắn là ông ta đã đi đến nơi đâu đó, nơi có vàng ròng như mơ, làm điều gì đó để kiếm tiền.
Nông dân đồn thổi hỏi bác Nhà Nông về số tài sản mà ông có được. Bác thản nhiên đáp:
– Tôi bán tấm da bò ở thành phố và có được ba trăm Taler.
Khi hay tin ấy, dân làng liền thi nhau giết bò để lấy da, ao ước sẽ đổi đời như bác Nhà Nông. Trưởng làng liền quyết định cử con gái mình đi đầu đoàn buôn bán.
Tới thành phố, cô gái đưa da bò tới thương gia, nhưng chỉ nhận được ba Taler. Một số nông dân khác cũng đến bán được mức giá tương tự. Thương gia cười khẩy:
– Khó mà có ai muốn mua đống da bò này!
Chẳng bao lâu, sự tức giận nổ ra tại làng, nông dân kéo nhau đến bác Nhà Nông, đòi hỏi công lý vì cảm thấy bị lừa dối, họ yêu cầu xử án bác, muốn bác phải chịu hình phạt tử hình trong một thùng rượu lớn, bên trong có một lỗ nhỏ để thở và lăn xuống sông.
Khi bác Nhà Nông bị dẫn tới nơi hành hình, một linh mục đến đọc kinh cầu nguyện. Thoáng nhìn nữ linh mục, bác nhận ra chính là vị linh mục đã chạy trốn khỏi tủ nhà bác thợ cối xay.
Bác liền lên tiếng:
– Ngày trước tôi đã cứu ngài khỏi cái tủ. Bây giờ, ngài hãy cứu tôi khỏi cái thùng này!
Ngay lúc đó, chú mục đồng lại đi ngang qua. Với sự hiểu biết được biết mục đồng ấy có tham vọng trở thành trưởng làng, bác Nhà Nông vội vàng nói lớn:
– Tôi không bao giờ làm đâu! Dù cho cả thế gian kêu gọi, tôi cũng không muốn!
Nghe vậy, chú mục đồng tò mò tìm hiểu:
– Bác không thích làm gì?
Bác Nhà Nông đáp:
– Họ bảo tôi ngồi vào trong thùng rượu để làm trưởng làng, nhưng tôi không muốn làm.
Chú mục đồng nghe xong, khẳng định:
– Nếu chỉ như vậy mà trở thành trưởng làng thì để tôi ngồi vào thùng rượu cho!
Bác Nhà Nông gật đầu:
– Bác cứ ngồi vào trong, là bác sẽ trở thành trưởng làng ngay!
Chú mục đồng vui sướng, liền nhanh chóng ngồi vào trong thùng rượu, bác Nhà Nông cũng nhanh nhẹn đóng nắp lại. Rồi bác đi đàn cừu đi tiếp.
Linh mục trở về làng, báo là đã đọc kinh cầu siêu cho bác Nhà Nông. Trong khi đó, tất cả dân làng đã kéo tới chỗ hành hình, không hay biết thùng rượu chứa mục đồng ở bên trong thay vì bác Nhà Nông.
Người mục đồng lớn tiếng:
– Tôi muốn làm trưởng làng!
Dân làng, lầm tưởng bác Nhà Nông ở trong thùng, lạnh nhạt đáp:
– Vậy cũng được, miễn là ở trong nước đã.
Họ nhanh chóng lăn thùng rượu xuống sông.
Sau khi đã hoàn thành, dân làng quay về làng, thì bỗng gặp bác Nhà Nông ung dung, gẩy đàn cừu trở về. Họ ngạc nhiên hỏi:
– Bác Nhà Nông, bác từ đâu ra đây? Hóa ra từ dưới sông lên à?
Bác Nhà Nông bình thản đáp:
– Tất nhiên rồi! Từ dưới đáy sông, tôi chỉ cần đạp nắp thùng và chui ra ngoài. Trước mắt tôi là hàng cỏ xanh trải dài, đầy ắp cừu.
Dân làng hào hứng hỏi:
– Thế còn nhiều cừu không?
Bác Nhà Nông cười tủm tỉm đáp:
– Ôi, nhiều ơi là nhiều, cả làng cũng không lấy nổi đâu!
Và thế là cả làng hẹn nhau cùng đi tìm cừu. Ai cũng muốn sở hữu cho mình một đàn cừu.
Trưởng làng quả quyết:
– Để tôi xuống trước nhé!
Tất cả họ cùng nhau nung nấu ý định và chuẩn bị đi vào dòng sông. Trời trong xanh, bầu trời phản chiếu ánh sáng lung linh xuống mặt nước, khiến dân làng tin rằng phía dưới có cừu.
Trưởng làng tự tin đi lên trước và nói:
– Tôi sẽ xuống xem sao, nếu đúng thì tôi sẽ gọi mọi người!
Ông nhảy “tũm” xuống nước. Dân làng hiểu lầm, cứ tưởng ông gọi “xuống đi!” nên lao theo. Và rồi, tất cả đều rơi vào dòng nước lạnh, không ai còn sống sót.
Cuối cùng, bác Nhà Nông, người đã từng gánh vác biết bao nhiêu khó khăn trở thành người giàu có nhất làng, là người duy nhất sống sót, thọ hưởng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc bên vợ con. Câu chuyện của bác Nhà Nông và bài học từ sự thông minh, khéo léo vẫn mãi là một kỷ niệm đẹp, khắc sâu trong tâm trí những người dân trong làng.
Chúc các bạn, anh, chị em có được những giờ phút thư giãn khi đọc Truyện cổ tích tại cotichvietnam.com