Website “Cổ tích Việt Nam” hân hạnh giới thiệu đến quý độc giả, đặc biệt là các bạn học sinh và những người yêu văn chương, bài phân tích sâu sắc về tác phẩm “Chiều xuân” – một trong những thi phẩm tiêu biểu của nữ sĩ Anh Thơ, nằm trong tập thơ “Bức tranh quê” xuất bản năm 1941. Bài thơ không chỉ là một bức tranh phong cảnh hữu tình mà còn là nơi gửi gắm tâm hồn nhạy cảm của một trong những nữ sĩ hàng đầu phong trào Thơ mới, mang đến vẻ đẹp êm đềm, tĩnh lặng nhưng cũng phảng phất nỗi buồn man mác của một buổi chiều xuân nơi làng quê Bắc Bộ.
Anh Thơ (tên thật Vương Kiều Ân, 1921 – 2005) xuất thân trong gia đình Nho học, dù chưa học hết tiểu học nhưng đã bộc lộ năng khiếu và tình yêu văn chương mãnh liệt. Thơ của bà thường khắc họa đề tài nông thôn với những hình ảnh gần gũi, quen thuộc, gợi nhớ ký ức êm đềm về làng mạc, quê hương. Mỗi bài thơ là một bức tranh thiên nhiên tươi mát, hài hòa, phản ánh không khí và nhịp sống thanh bình ở miền quê. “Chiều xuân” chính là một minh chứng rõ nét cho phong cách nghệ thuật độc đáo ấy của Anh Thơ.
Trong thi phẩm này, nhà thơ đã tinh tế quan sát và lựa chọn những hình ảnh, chi tiết đặc trưng, phác họa nên ba bức tranh về chiều xuân yên ả, thanh bình. Buổi chiều, khoảnh khắc giao thoa giữa ngày và đêm, thường dễ khơi gợi cảm xúc và thi hứng, đã được Anh Thơ nắm bắt một cách tài tình để tạo nên những vần thơ đầy thi vị.
Mở đầu bài thơ là bức tranh về bến sông vắng lặng trong một chiều mưa bụi:
Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi…
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.
Qua lăng kính tâm tưởng, nữ sĩ đã cảm nhận được cái hồn của cảnh vật quen thuộc. Trong chiều mưa lạnh giăng mắc, quang cảnh bến sông càng trở nên tiêu điều, vắng vẻ. Cả bức tranh dường như thiếu đi sắc màu tươi sáng và ánh nắng rực rỡ. Trong sự tĩnh lặng gần như tuyệt đối của không gian, vẫn có sự hoạt động của cảnh vật, dù rất nhẹ nhàng, như có như không. Những hạt mưa bụi li ti “êm êm” rơi, làm bến vắng càng thêm trầm mặc. Con đò thường ngày hối hả chở khách, nay như mệt mỏi, “biếng lười nằm mặc nước sông trôi”, phó mặc cho dòng nước cuốn đi. Quán tranh cũng như thu mình lại, “đứng im lìm trong vắng lặng” vì không còn tiếng cười nói rộn ràng của khách. Hình ảnh chòm xoan với những chùm hoa tím “rụng tơi bời” trước ngọn gió xuân còn vương hơi lạnh của buổi tàn đông, tất cả đều như ẩn chứa một nỗi buồn sâu kín, khó nói thành lời, một sự cô đơn hiu hắt của cảnh vật.
Tiếp nối là bức tranh thứ hai, mở ra khung cảnh đường đê với sức sống tươi mới hơn:
Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,
Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ;
Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió,
Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.
Hình ảnh đường đê trong buổi chiều xuân qua cảm nhận của nữ sĩ thật thân thương và bình yên. So với cảnh bến vắng đìu hiu ở khổ thơ trước, cảnh đường đê hiện lên vui tươi và nhiều sức sống hơn hẳn. Màu xanh biếc của “cỏ non mơn mởn tràn” dài hút tầm mắt, gợi lên sự sinh sôi nảy nở mạnh mẽ của mùa xuân. Từ “tràn biếc cỏ” không chỉ miêu tả màu sắc mà còn diễn tả sự sống lan tỏa, bừng lên. Trên cái nền xanh mát mắt và mát cả hồn người ấy, điểm xuyết vài nét chấm phá của “đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ” và “mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió”. Đặc biệt, hình ảnh “những trâu bò thong thả cúi ăn mưa” là một liên tưởng bất ngờ và thú vị, một ảo giác nghệ thuật nảy sinh từ thực tế qua lăng kính lãng mạn của nhà thơ. Chúng gặm những búi cỏ ướt đẫm mưa xuân mà như thể đang thưởng thức chính những hạt mưa tinh túy của đất trời. Đoạn thơ có nhiều nét tươi mát và thơ mộng, chứng tỏ tác giả có tài quan sát và sự rung động tinh tế, nhận thấy cảnh vật vừa thực lại vừa ảo, vừa quen lại vừa lạ.
Tuy nhiên, bức tranh quê dù đẹp đẽ, thanh bình đến đâu chăng nữa cũng sẽ trống trải nếu thiếu hình ảnh con người. Con người xuất hiện làm cho bức tranh thiên nhiên trở thành một bức tranh sinh hoạt đầy sức sống:
Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng,
Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra.
Làm giật mình một cô nàng yếm thắm,
Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa.
Khung cảnh hiện lên như trong một giấc mơ, giữa cánh đồng lúa “xanh rờn và ướt lặng”, nổi bật lên hình ảnh “một cô nàng yếm thắm” tràn đầy sức sống của tuổi xuân. Đây là hình ảnh đáng yêu, thể hiện chất trữ tình lãng mạn đậm đà trong tâm hồn nữ thi sĩ. Tiếng động bất ngờ của “lũ cò con chốc chốc vụt bay ra” khiến cô gái giật mình ngơ ngác là một điểm nhấn nghệ thuật, phá vỡ cái tĩnh lặng để rồi lại càng làm nổi bật vẻ thanh bình, vắng lặng của chiều xuân. Hình ảnh cô thôn nữ với dáng vẻ cắm cúi, chuyên cần làm việc giữa khung cảnh chiều xuân êm đềm đã làm rung động lòng người. Vẻ đẹp của cô thôn nữ bên cạnh vẻ đẹp của thiên nhiên khiến cho cảnh sắc bình thường, thân quen bỗng trở nên đẹp đẽ lạ thường. Thủ pháp lấy động tả tĩnh đã làm nổi bật vẻ thanh bình, vắng lặng của chiều xuân chốn đồng quê. Từ “ruộng sắp ra hoa” không chỉ là chi tiết tả thực mà còn gợi lên niềm hy vọng về một mùa màng bội thu, niềm vui lao động.
Ba bức tranh vẽ ba khung cảnh khác nhau nhưng trong cùng một thời điểm, tạo nên một tổng thể hài hòa về buổi chiều xuân. Nữ sĩ Anh Thơ tìm cảm hứng từ những khung cảnh bình dị, quen thuộc xung quanh và tỏ ra có thế mạnh ở lối miêu tả tỉ mỉ, chi tiết, thâu tóm được cái hồn của cảnh vật thiên nhiên. Bà còn đóng góp cho Thơ mới ở cách dùng từ độc đáo, mới lạ như “mưa đổ bụi”, “đò biếng lười”, “rụng tơi bời”, “mổ vu vơ”, “thong thả cúi ăn mưa”… Những nét độc đáo, mới lạ ấy được thể hiện qua sự duyên dáng, mềm mại của các câu thơ, càng làm nổi bật phong cách lãng mạn của tác giả. Bức tranh tổng thể về buổi chiều xuân yên ả, thanh bình vừa hòa hợp với tâm hồn nữ sĩ vừa gợi nên tình cảm làng mạc, quê hương sâu sắc trong lòng mỗi con người Việt Nam.
“Chiều xuân” không chỉ là một bài thơ miêu tả cảnh vật mà còn là tiếng lòng của Anh Thơ gửi gắm tình yêu tha thiết với quê hương, đất nước. Thi phẩm này góp phần bồi đắp và nuôi dưỡng trong tâm hồn mỗi người những tình cảm đẹp đẽ cho cảnh vật bình dị của làng quê Việt. Hãy cùng đọc và cảm nhận sâu hơn về vẻ đẹp ấy!






